Thứ ba, ngày 03 tháng 05 năm 2016 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM


I. Giới thiệu chung
- Tên nước : Cộng hoà Pháp  (République française)
- Thủ đô : Paris
- Diện tích : 551.602 km2
- Dân số : 64.102.000  (2007), đứng thứ 2 trong EU - sau Đức (82 triệu). Tỷ lệ  sinh: 1,8%/năm. Tuổi thọ trung bình : 79
- Tôn giáo : Thiên chúa giáo, Hồi giáo...
- Quốc khánh : 14 tháng 7
- Các vị lãnh đạo hiện nay:
• Tổng thống: Ông Ni-cô-la Xác-kô-di (Nicolas Sarkozy)
• Chủ tịch Quốc hội: Ông Béc-na Ác-coi-ê (Bernard Accoyer)
• Chủ tịch Thượng viện : Giê-ra Lác-sê (Gérard Larcher)
• Thủ tướng: Ông Phơ-răng-xoa Phi-ông (François Fillon)
• Bộ trưởng Ngoại giao và các vấn đề châu Âu:  Ông Bec-na Ku-sơ-ne (Bernard Kouchner)

II. Khái quát lịch sử
Nước Pháp là nước có lịch sử lâu đời ở châu Âu. Tổ tiên của người Pháp là người Gô-loa 1000 năm trước công nguyên. Tới năm 59 trước công nguyên xứ Gôn bị đế chế La Mã chinh phục và đô hộ trong 400 năm và chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hoá La Mã. Thế kỷ 18, nền văn minh Pháp và tiếng Pháp phát triển rực rỡ ở châu Âu với kỷ nguyên ánh sáng và các nhà triết học nổi tiếng như Mông-tét-xki-ơ, Vôn-te, Đi-đơ-rô, Rút-xô…

Cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã đi vào lịch sử với Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền. Năm 1871, Công xã Paris - cuộc cách mạng vô sản đầu tiên - thắng lợi ở Pháp, nhưng chỉ tồn tại được một thời gian ngắn.

Nước Pháp đã trải qua nhiều nền cộng hoà, hiện nay là nền cộng hoà thứ 5.

III. Kinh tế

Pháp giàu quặng sắt, than, bô xít, potate, với 2/3 diện tích là đồng bằng và cao nguyên phì nhiêu thuận lợi cho canh tác, chăn nuôi. Pháp thiếu nhiên liệu, hầu như phải nhập toàn bộ nhu cầu về dầu lửa, khoảng 70-80 triệu tấn/năm. Ngoài khai thác than (16-18 triệu tấn/năm), Pháp đẩy mạnh sản xuất năng lượng nguyên tử, hiện đã chiếm 85% sản xuất điện của Pháp nhằm giảm bớt lệ thuộc vào sự biến động của thị trường nhiên liệu. Pháp là cường quốc kinh tế số 5 thế giới, đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu dịch vụ. Pháp có số lượng doanh nghiệp rất lớn, các doanh nghiệp có mặt trong số những doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong tất cả các lĩnh vực. Có truyền thống lâu đời trong phát minh công nghiệp, hệ thống giáo dục chát lượng cao, đội ngũ nghiên cứu trình độ cao ; đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu-phát triển ; năng suất lao động thuộc loại hàng đầu thế giới.

Thu nhập quốc dân (GDP) năm 2008: 1,957 tỷ euro, sau Mỹ, Nhật Bản, Đức (số liệu của eurostat).

Tăng trưởng GDP trong năm 2008 đạt 0,9% (số liệu của Eurostat).

Tỷ lệ thất nghiệp năm 2008 : 8,5%, tương đương 2.068.000 người, số liệu lớn nhất kể từ 1993.

Thương mại (2008): Thâm hụt cán cân thương mại 55,2 tỷ eu-ro. Xuất khẩu đạt 492,3 tỷ eu-ro đứng thứ 4 thế giới, chiếm 5,3% thị trường thế giới, chủ yếu là xe hơi, thiết bị văn phòng và điện tử, thiết bị giao thông vận tải, hoá hữu cơ, sản phẩm dược, xây dựng sân bay, máy móc, nông sản chế biến, lương thực. Nhập khẩu ở mức 520,6 tỷ eu-ro, cũng đứng thứ 4 thế giới, sau Mỹ, Đức, Nhật. 63% trao đổi mậu dịch của Pháp là với các đối tác trong EU. 

Nông nghiệp: Pháp là nước đứng đầu châu Âu về sản xuất và xuất khẩu nông sản. Tuy chỉ có 6% lao động làm việc trong nông nghiệp, hàng năm Pháp xuất siêu khoảng 6,6 tỷ USD hàng nông sản gồm lúa mì, rượu nho, các sản phẩm thịt và sữa. Năng suất lao động nông nghiệp cao, công nghiệp chế biến thực phẩm rất phát triển chiếm 5% GDP.
 
Các ngành công nghiệp và dịch vụ mũi nhọn:

- Chế tạo cơ khí, nhất là sản xuất ôtô (thứ 4 thế giới với các công ty như PSA Peugeot-Citroen, Renault: hai công ty này chiếm 24% thị phần Châu Âu).
- Hàng không (thứ 3 thế giới với các công ty lớn như EADS, Ariane space, Airbus, Dassault Aviation).
- Thiết bị giao thông vận tải (xe lửa cao tốc, tàu điện ngầm)
- Vật liệu xây dựng, thiết bị (Lafarge, Pechiney)
- Viễn thông (Alcatel, France Telecom, Bouygue)
- Công nghiệp dược (thứ 5 thế giới, Rhone-Poulenc).
- Mỹ phẩm cao cấp v.v...
- Dịch vụ của Pháp rất phát triển trong hệ thống tài chính và ngân hàng.
- Pháp còn là nước có nguồn lãi về du lịch đứng hàng đầu thế giới (thu hút 60 triệu khách/năm, năm 2002 có 78 triệu người thăm Pháp).
 
Về thu hút đầu tư nước ngoài, Pháp là địa chỉ hấp dẫn hàng đầu thế giới sau Mỹ, Anh và Trung Quốc, đứng thứ 2 Châu Âu, sau Anh, trước Ai-len, Đức, Ba-Lan và Hung-ga-ri. Đầu tư của châu Á vào Pháp còn hạn chế nhưng tăng nhanh. Pháp đứng thứ 2 trên thế giới về đầu tư ra nước ngoài, chỉ sau Mỹ và tập trung chủ yếu tại châu Âu.

IV. Chính trị
1. Thể chế nhà nước

Cộng hoà. Nước Pháp theo chế độ Nghị viện - Tổng thống. Hiến pháp ngày 04/10/1958 liên tiếp được sửa đổi: Bầu cử Tổng thống theo phương thức phổ thông đầu phiếu trực tiếp (1962), bổ sung mục mới liên quan đến trách nhiệm hình sự của các thành viên chính phủ (1993), thiết lập kỳ họp duy nhất ở Nghị viện và mở rộng quy mô trưng cầu dân ý (1995), rút ngắn nhiệm kỳ tổng thống từ 7 năm xuống 5 năm (2000).

Tổng thống do phổ thông đầu phiếu trực tiếp bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm và có quyền lực lớn: cử Thủ tướng, chủ trì Hội đồng Bộ trưởng, giải tán Quốc hội và quyết định tổ chức trưng cầu dân ý về các vấn đề quan trọng... Theo hiến pháp, Tổng thống là lãnh đạo cao nhất về chính sách đối ngoại và quốc phòng. Thủ tướng đứng đầu Chính phủ, có trách nhiệm trước Quốc hội, giữ quyền xây dựng luật trong phạm vi của mình và đảm bảo thi hành pháp luật.  

Quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, gồm Quốc hội và Thượng viện. Quốc hội do phổ thông đầu phiếu trực tiếp bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm (577 đại biểu). Thượng viện được bầu gián tiếp (do các uỷ viên hội đồng vùng, tỉnh và các nghị sĩ Quốc hội bầu ra), nhiệm kỳ 9 năm, 3 năm bầu lại 1/3. Với việc bỏ phiếu bất tín nhiệm, Quốc hội có thể bãi miễn chính phủ.

2. Các đảng phái chính trị
2.1. Các đảng phái cánh tả:

- Đảng Xã hội: thành lập 1905, đầu những năm 70 phát triển mạnh, có tổ chức sâu rộng trong xã hội. Tháng 11/2008, Đảng Xã hội Pháp tiến hành Đại hội lần thứ 75 tại Reims. Bà Martine Aubry, Thị trưởng thành phố Lille, đã trúng cử Bí thư thứ nhất, đánh bại hai đối thủ khác là bà Royal và ông Hamon với số phiếu sít sao (với 42 phiếu chênh lệch với bà Royal). Đây là lần đầu tiên Đảng Xã hội Pháp có lãnh đạo là nữ. Tuy nhiên, Đảng Xã hội hiện nay đang bị chia rẽ sâu sắc và bị “phân liệt” thành 2 phe rõ rệt là phe ủng hộ bà Royal và phe ủng hộ đương kim Bí thư thứ nhất Aubry. Thách thức lớn nhất của Đảng là phải thống nhất được một đường lối chung để chuẩn bị cho các cuộc bầu cử sắp tới, đặc biệt là việc lựa chọn ứng cử viên ra tranh cử Tổng thống vào năm 2012 sắp tới.

- Đảng Cộng sản: ra đời năm 1920, theo đường lối mác-xít, với mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng con đường hoà bình. Từ cuối những năm 70, số lượng đảng viên giảm rõ rệt do tác động của tình hình quốc tế và đấu tranh giữa các khuynh hướng trong nội bộ đảng. Tháng 12/2008, Đảng Cộng sản Pháp tiến hành Đại hội lần thứ 34 tại Paris. Bí thư toàn quốc Marie-George Buffet tái đắc cử lần thứ 4 vào chức vụ này. Tình hình nội bộ Đảng đang bị chia rẽ thành nhiều phe phái với các đường lối phát triển Đảng khác nhau. Việc bầu lại Bí thư toàn quốc cho thấy khó khăn của Đảng trong việc tìm kiếm một lãnh đạo có đủ năng lực và uy tín để có thể tập hợp được lực lượng, thay thế cho Bí thư toàn quốc hiện tại.

 - Đảng Xanh (Les Verts): thành lập 1984, chủ trương "đoàn kết, có trách nhiệm đối với hành tinh và trách nhiệm công dân".  

- Đảng cánh tả (Parti de gauche) : thành lập tại Đại hội các lực lượng chính trị cánh tả (Đảng Cộng sản, Liên đoàn cách mạng cộng sản, đấu tranh công nhân) ở Limeil-Brévanne (Val de Marne) từ ngày 30/1 – 1/2/2009. Mục tiêu của Đảng cánh tả là muốn làm cầu nối giữa Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội và các đảng cực tả khác, có tham vọng tham gia chính phủ. Đảng cánh tả có khoảng 4000 đảng viên bao gồm một số đảng viên bỏ Đảng Xã hội và các ủy ban ủng hộ đảng ở các địa phương do ông Mélenchon làm Chủ tịch Đảng. 

Ngoài ra còn có các đảng khác như : Phong trào Công dân (Mouvement des citoyens); Đảng Xã hội cấp tiến (Parti Radical Socialiste); Đảng Đấu tranh Công nhân (Lutte Ouvrière); Đảng chống tư bản mới (Nouveau Parti Anticapitaliste)...

2.2. Các đảng phái cánh hữu:
- Đảng Liên minh vì phong trào nhân dân (UMP) thành lập tháng 10/2002, tập hợp các đảng RPR, UDF và cánh trung hữu của Lực lượng Dân chủ. UMP là đảng cầm quyền hiện nay tại Pháp. Tổng thống Sarkozy tuy không giữ chức Chủ tịch đảng nhưng trên thực tế vẫn tiếp tục duy trì mọi hoạt động cũng như việc bố trí nhân sự trong nội bộ UMP. Việc này được thể hiện tại Hội đồng toàn quốc bầu lại Ban lãnh đạo của đảng trong tháng 1/2009 với Tổng Thư ký là ông Xavier Bertrand, nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động, Quan hệ xã hội, gia đình và đoàn kết và 4 Phó Tổng Thư ký là ông Eric Besson (trước đây là người của đảng Xã hội, hiện là Bộ trưởng Bộ Nhập cư, Hội nhập, Bản sắc dân tộc và Phát triển đoàn kết), ông Marc-Philippe Daubresse (đảng Trung hữu), bà Nathalie Kosciusko-Morizet và ông Axel Poniatowski (trước đây thuộc đảng UDF).

- Đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia (Front National): thành lập năm 1972. Đầu năm 1999, phân liệt thành 2 đảng Mặt trận Quốc gia và Mặt trận Quốc gia-Phong trào Quốc gia (Front National-Mouvement National). Tại cuộc bầu cử tổng thống 5/2002, Đảng này đã lợi dụng tâm lý chán nản của dân chúng trong một số vấn đề như nhập cư, thất nghiệp nên lần đầu tiên đã lọt được vào vòng II. Trong cuộc bầu cử tổng thống 5/2006, mặc dù Chủ tịch Đảng ông Jean Marie Le Pen đạt tới 10,44% số phiếu, tương lai của đảng này vẫn rất bấp bênh do đảng UMP giành giật một số cử tri. Nội bộ của đảng cũng chưa thống nhất về lãnh đạo đảng trong giai đoạn chuyển tiếp sau khi Le Pen rút khỏi chính trường.

2.3. Các Đảng trung dung:

- Đảng Phong trào Dân chủ (MoDem): do François Bayrou thành lập tháng 12/2007 và làm Chủ tịch trên cơ sở lực lượng UDF trung thành với ông (đảng UDF không còn tồn tại). MoDem hiện có khoảng 50-60 vạn đảng viên và chủ trương tham gia vào công cuộc cải tổ xã hội Pháp, sẽ ủng hộ hoặc phản đối những biện pháp của Chính phủ nếu thấy các biện pháp đó phù hợp hoặc không phù hợp với xã hội Pháp.

- Đảng Trung dung mới (NC): do các Nghị sĩ đảng UDF tái cử khác thành lập  tháng 5/2007. Chủ tịch Đảng là ông André Santini. NC ủng hộ phe đa số của tổng thống Sarkozy nhưng vẫn muốn có sự độc lập về chính trị với đảng UMP.

V. Chính sách đối ngoại và quốc phòng

Pháp là nước cổ động mạnh nhất cho việc hình thành một thế giới đa cực, trong đó EU đóng một vai trò nòng cốt. Tổng thống Sarkozy mong muốn thể hiện chính sách mới, phong cách mới, “đoạn tuyệt” với quá khứ.

Chính quyền Sarkozy chủ trương ưu tiên vấn đề dân chủ, nhân quyền trong chính sách đối thoại. Pháp đề cao các giá trị, nhân quyền và chủ trương tích cực đi đầu trong việc khuyến khích và giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể, Pháp vẫn tính đến lợi ích thiết thực trong quan hệ với những đối tượng cụ thể.


TÓM TẮT QUAN HỆ VIỆT NAM – PHÁP
     ---*---

I/ Quan hệ chính trị:
Việt Nam và Pháp thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ ngày 12/4/1973.

1/ Các giai đoạn phát triển: 

- Giai đoạn 1975-1978: Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam và Pháp tăng cường quan hệ nhiều mặt. Hai nước đã ký một loạt nghị định thư tài chính, Pháp bắt đầu hỗ trợ ta trong quá trình khôi phục đất nước. Đỉnh cao quan hệ là chuyến thăm Pháp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tháng 4/1977.

- Trong những năm 80, quan hệ hai nước bị ngưng đọng do vấn đề Campuchia. Các nước phương Tây thi hành chính sách cô lập Việt Nam, gây sức ép đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, nhưng khác với Mỹ, Pháp giữ thái độ chừng mực.

- Từ năm 1989, quan hệ Việt-Pháp được cải thiện trở lại. Pháp đã đi đầu các nước phương Tây trong khai thông quan hệ với Việt Nam, xoá nợ cho Việt Nam, giúp Việt Nam giải quyết nợ với các nước chủ nợ thành viên CLB Paris.

- Từ đó đến nay, Việt Nam và Pháp đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao thăm viếng lẫn nhau. Về phía Pháp, đã có 3 chuyến thăm cấp nguyên thủ quốc gia sang Việt Nam (1993, 1997 và 2004). Về phía Việt Nam, Chủ tịch nước sang thăm Pháp 1 lần (2002), Thủ tướng Chính phủ thăm 3 lần (1993, 1998 và 2007).

2/ Các cơ chế hợp tác:
- Đầu năm 1982, Việt Nam và Pháp thiết lập Uỷ ban hỗn hợp Hợp tác Văn hóa, Khoa học kỹ thuật liên Chính phủ; họp thường kỳ hai năm một lần. Uỷ ban họp phiên thứ 11 tại Hà Nội tháng 5/2000 và sau đó không tổ chức họp nữa.

- Năm 1993, Nhà Pháp luật Việt-Pháp được thành lập trên cơ sở Hiệp định giữa hai Chính phủ với hai nhiệm vụ chủ yếu là hỗ trợ Việt Nam trong quá trình soạn thảo các văn bản pháp luật và đào tạo chuyên gia ngành tư pháp. Hàng năm, hai Bộ trưởng Tư pháp Việt Nam và Pháp đồng chủ trì Uỷ ban định hướng Nhà Pháp luật Việt –Pháp, họp luân phiên tại hai nước nhằm báo cáo hoạt động của năm trước và thông qua Chương trình hoạt động của năm sau. Phiên họp thứ 16 của Uỷ ban định hướng sẽ được tổ chức tại Việt Nam tháng 02/2009.

3/ Các Hiệp định khung đã ký:
- Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật (1989),
- Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (1992),
- Hiệp định hợp tác y tế và y học(1992),
- Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần (1993),
- Hiệp định về hợp tác pháp luật và tư pháp (1993)
- Hiệp định hợp tác về du lịch (1996),
- Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự (1999)
- Hiệp định hợp tác hàng hải (2000),
- Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi (2000),
- Hiệp định về miễn thị thực lưu trú ngắn hạn đối với người mang hộ chiếu ngoại giao (2004),
- Hiệp định hợp tác khoa học công nghệ (2007).

II/ Quan hệ kinh tế: 
1/ Hỗ trợ phát triển:

Việt Nam là một trong ít nước được hưởng cả ba kênh viện trợ tài chính của Pháp là viện trợ phát triển chính thức từ ngân khố và cho vay ưu đãi từ Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và từ Quỹ Đoàn kết ưu tiên (FSP). Pháp hiện là nhà tài trợ ODA thứ hai cho Việt Nam, sau Nhật Bản. Việt Nam hiện đứng thứ 7 trong số các nước hưởng ODA của Pháp. Đến nay, Pháp đã cấp cho Việt Nam tổng số vốn trên 2 tỷ euro cho các dự án. Năm 2008, Pháp đứng đầu trong số các nhà tài trợ song phương tại CG, cam kết viện trợ 280,96 triệu đô-la cho Việt Nam (tăng so với năm 2007 là 228 triệu).

Theo tinh thần Tài liệu khung về quan hệ đối tác Việt Nam – Pháp giai đoạn 2006-2010 (ký ngày 15/9/2006), Pháp cam kết viện trợ cho Việt Nam 1,4 tỷ đô –la, tập trung thế mạnh của Pháp vào 4 lĩnh vực ưu tiên : cải cách pháp luật và chính trị; hiện đại hóa hệ thống giáo dục và nghiên cứu; hỗ trợ chuyển đổi nền kinh tế; góp phần giảm nghèo, cải thiện phúc lợi xã hội.

2/ Trao đổi thương mại:
Pháp là bạn hàng châu Âu thứ 3 của Việt Nam (không kể Nga). Tuy nhiên, trao đổi với Pháp có khuynh hướng chững lại so với một số nước Tây Âu khác và đang có nguy cơ tụt xuống hàng thứ 4, sau Đức, Anh, Hà Lan. Năm 2008, tổng trị giá hàng VN xuất khẩu sang Pháp đạt xấp xỉ 786 triệu đô-la, chủ yếu là giày dép, hàng dệt may, hàng hải sản, sản phẩm đá quý và kim loại quý. Tổng trị giá hàng hoá nhập khẩu từ Pháp đạt  khoảng 662 triệu đô-la, chủ yếu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; tân dược; các sản phẩm hóa chất; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày; sữa và sản phẩm sữa.

3/ Đầu tư:

Pháp đứng thứ hai các nước châu Âu (sau Hà Lan) và đứng thứ 10 trong tổng số 77 nước và lãnh thổ đầu tư ở Việt Nam (năm 2006 Pháp đứng thứ 7). Tính đến nay, Pháp đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn cam kết khoảng 2,38 tỷ đô-la cho 198 dự án. Các lĩnh vực có vốn đầu tư lớn là dịch vụ (50% tổng vốn), công nghiệp (37%). Hình thức đầu tư bao gồm hợp đồng hợp tác kinh doanh (chiếm 31%), BOT (29,6%) với quy mô trung bình là 16,24 triệu USD/dự án. Đầu tư trực tiếp của Pháp tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, giao thông và viễn thông, khách sạn và dịch vụ, chế biến thực phẩm; phân bổ trên khoảng 30 địa phương, tập trung phần lớn tại thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hà Nội. Pháp không có dự án lớn nào (trên 100 triệu đô-la) tại Việt Nam và hiện quan tâm đến các dự án về năng lượng.

III/ Hợp tác văn hoá, khoa học và kỹ thuật:

1/ Hợp tác khoa học và công nghệ:
Việt Nam nằm trong số các nước hợp tác ưu tiên của Pháp. Hợp tác Việt-Pháp hiện nay được thực hiện thông qua các dự án do Quỹ Đoàn kết Ưu tiên (FSP) của Pháp tài trợ. Đây thường là các chương trình lớn, dài hạn về nghiên cứu, phát triển công nghệ, đào tạo phục vụ phát triển kinh tế xã hội; phát huy giá trị văn hóa; tăng cường năng lực về pháp luật và hành chính, … với kinh phí trung bình cho mỗi dự án khoảng trên một triệu euro.

Tháng 3/2007, Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai Chính phủ đã được ký kết nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các chuyên gia, cơ quan và tổ chức khoa học và công nghệ hai nước tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác. Hợp tác trong lĩnh vực ứng dụng hạt nhân ngày càng được tăng cường trong khuôn khổ Thỏa thuận giữa Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam và Uỷ ban Năng lượng Nguyên tử Pháp (CEA) như hợp tác đào tạo cán bộ về công nghệ hạt nhân và khai thác sử dụng chương trình tính toán của CEA, cung cấp tài liệu tuyên truyền về điện hạt nhân cho công chúng.

2/ Hợp tác về giáo dục và đào tạo:

Hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Pháp đã hình thành và phát triển từ đầu những năm 80. Pháp luôn coi giáo dục và đào tạo là mục tiêu ưu tiên trong hoạt động hợp tác của mình tại Việt Nam. Các lĩnh vực hợp tác với Pháp tập trung chủ yếu vào việc giảng dạy và phát triển tiếng Pháp, đào tạo nguồn nhân lực ở bậc đại học, sau đại học trong nhiều lĩnh vực: quản lý kinh tế, ngân hàng, tài chính, luật, công nghệ mới…

 Hàng năm, Chính phủ Pháp dành một khoản ngân sách trị giá 1,7 triệu Euro để cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Pháp học tập, nhằm giúp Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính sách học bổng của Pháp tập trung chủ yếu cho các chương trình đào tạo ở bậc học thạc sỹ và tiến sỹ. Số lượng sinh viên Việt Nam du học tại Pháp tăng khoảng 40% trong vòng 10 năm và con số hiện nay khoảng 5000 sinh viên. Pháp khẳng định sẽ hợp tác và hỗ trợ Việt Nam thực hiện kế hoạch đào tạo 10 000 tiến sỹ từ nay đến 2010.

3/ Hợp tác văn hóa:

Giao lưu văn hoá giữa hai nước ngày càng phát triển. Chính phủ Pháp dành ưu tiên hỗ trợ cho chính sách hội nhập văn hóa của Việt Nam với phương châm khẳng định, tôn trọng sự đa dạng văn hoá Việt Nam. Liên hoan nghệ thuật Festival Huế được tổ chức lần đầu vào tháng 4/2000 với sự tài trợ và tham gia tích cực của Pháp đã trở thành một hoạt động văn hóa quốc tế, được tổ chức 2 năm một lần.

Ngoài ra, Việt Nam được mời tham gia vào nhiều lễ hội văn hóa nghệ thuật tại Pháp (Lễ hội nghệ thuật Avignon, Lễ hội Biển quốc tế Brest).

IV/ Các hoạt động hợp tác khác:

1/ Hợp tác giữa các địa phương: (còn gọi là hợp tác phi tập trung) là một hình thức hợp tác đặc thù trong quan hệ hai nước và hiện đang đi vào chiều sâu. Hiện có 52 địa phương (Vùng, Tỉnh) của Pháp là đối tác với 54 tỉnh/thành phố vủa Việt Nam. Hai năm một lần, Hội nghị hợp tác Phi tập trung được tổ chức nhằm đánh giá hoạt động hợp tác và trao đổi kinh nghiệm hợp tác giữa các địa phương. Việt Nam lần đầu tiên đăng cai tổ chức Hội nghị lần thứ 6 vào năm 2005 tại Huế và dự kiến tổ chức Hội nghị lần thứ 8 vào năm 2009 tại Hải Phòng.

2/ Pháp ngữ: Đều là thành viên của tổ chức Pháp ngữ, hai nước có nhiều hoạt động hợp tác trong khuôn khổ tổ chức Pháp ngữ, đặc biệt trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Pháp, giảng dạy đại học, các hoạt động nghị viện… 

3/ Hợp tác ba bên:  Giữa Việt Nam, Pháp với/hoặc một tổ chức tài trợ và một số nước châu Phi như Mali, Burkina Faso, Senegal trong cách lĩnh vực nông nghiệp, y tế… đã thu được những kết quả tốt và được các nước thụ hưởng hoan nghênh, đề nghị nhân rộng.

                                                                                               Tháng 02/2009

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: [email protected]