Chủ nhật, ngày 26 tháng 06 năm 2016 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ THUỴ ĐIỂN VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM


I. KHÁI QUÁT CHUNG

- Tên nước : Vương quốc Thuỵ Điển.

- Thủ đô : Xtốc-khôm (Stokholm) khoảng trên 1.5 triệu dân (kể cả ngoại ô). Các thành phố lớn khác : Goteborg : 750.000 dân, Malmo : khoảng 500.000 dân.

- Vị trí địa lý : Nằm trên bán đảo Scandinavia, Tây và Bắc giáp Nauy, Đông giáp Phần Lan, Nam giáp biển Baltic và Đan Mạch.

- Diện tích : 449.964 km2. Rừng chiếm 228.000 km2, hồ 39.000 km2 và đất canh tác chiếm 30.000 km2. Mật độ dân số 20 người/km2.

- Dân số : 9 triệu người, trong đó 1,2 triệu là người nước ngoài nhập cư. Người Thuỵ Điển chiếm 80%, người Láp (còn gọi là người Sam) có khoảng 150.000 người. 

 - Khí hậu : Tuy nằm ở gần Bắc cực, nhưng do ảnh hưởng của hải lưu nóng Gulf         Stream nên khí hậu tương đối ôn hoà. Mùa hè nhiệt độ trung bình  từ 150C - 170C. Mùa Đông ở miền Bắc trung bình -14oC,  miền Nam - 100C.

- Tôn giáo : Đạo Tin lành dòng Lu-thơ chiếm 85% dân số, còn lại là các tôn giáo khác.   

- Ngôn ngữ : tiếng Thuỵ Điển. Ngoại ngữ thông dụng nhất là tiếng Anh.

- Ngày Quốc khánh : 6/6 (Ngày lễ cờ - trước đây lấy ngày sinh của Vua).

- Đơn vị tiền tệ : Đồng Cua-ron (SEK). Tỉ giá 1 USD = 7.5 SEK.

- Tên các nhà lãnh đạo hiện nay :

  + Nhà Vua : Can Gút-xtáp XVI (Carl XVI Gustaf).
  + Thủ tướng : Fredrik Reinfeldt (Chủ tịch Đảng Ôn hoà)
  + Bộ trưởng Ngoại giao : Ông Carl Bildt (Đảng Ôn hoà)
  + Chủ tịch Quốc hội : Ông Per Westerberg (Đảng Ôn hoà)

II. LỊCH SỬ

 - Năm  610, Thuỵ Điển trở thành quốc gia thống nhất. Từ thế kỷ 9-11 là thời kỳ Viking; người Viking Thuỵ Điển đi chinh phục phần lớn châu Âu và làm chủ biển Ban tích.

 - Từ 1160 - 1809 : Thuỵ Điển thống trị Phần Lan. 

 - Từ 1370 - 1524 : Bị Đan Mạch thống trị trong liên minh Kalmar.

 - 1523  : Liên minh Kalmar tan rã. Thuỵ Điển bước vào thời kỳ hưng  thịnh với triều đại vua đầu tiên Gustaf Vasa.

 - Thế kỷ 17-18 : là thời kỳ cường quốc phong kiến Thuỵ Điển tiến hành chiến tranh thôn tính các nước láng giềng (Nga, Đức, Ba Lan, Đan Mạch, Phần Lan).

 - Năm 1721 Thuỵ Điển bị Nga hoàng đánh bại và bị mất các vùng xung quanh    Ban Tích, trừ Phần Lan, chấm dứt thời kỳ cường quốc Thuỵ Điển.

 - Năm 1808-1809 Nga gây chiến với Thuỵ Điển để thực hiện ý đồ thôn tính Phần Lan. Thuỵ Điển thua phải nhượng Phần Lan cho Nga.

 - 1812 Thuỵ Điển liên minh với Nga và Anh đánh bại Napoleon. Thuỵ Điển    được chia Nauy đang dưới sự cai trị của Đan Mạch vì Đan Mạch liên minh với    Napoleon. 1905 Nauy tách khỏi Thuỵ Điển thành một quốc gia độc lập. Cuộc    chiến tranh cuối cùng Thuỵ Điển tham gia kết thúc vào 1814. Sau đó Thuỵ  Điển thực hiện chính sách trung lập, không đứng về bên nào trong chiến tranh thế giới I và II.

- Ngày 19/12/1946, Thuỵ Điển gia nhập Liên hợp quốc. 11/1959 gia nhập khối   Mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA).

- Ngày 1/3/1994 Thuỵ Điển và EU ký Hiệp định về  việc Thuỵ Điển xin vào EU. Thuỵ Điển trở thành thành viên chính thức EU  từ 1/1/995 sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 13/11/1994 được đa số tán thành.

- Thuỵ Điển chưa tham gia hệ thống đồng tiền chung Châu Âu (EURO).

III. CHÍNH TRỊ

1. Thể chế nhà nước và tổ chức bộ máy nhà nước

a/  Thể chế nhà nước

Quân chủ lập hiến với hình thức chính phủ nghị viện. Vua là nguyên thủ quốc gia nhưng không tham gia chính trị và không có quyền lực chính trị mà chỉ tham gia các hoạt động có tính chất lễ nghi như khai mạc quốc hội hàng năm, chủ trì Hội đồng cố vấn về đối ngoại, nhận thư uỷ nhiệm của Đại sứ các nước đến nhận nhiệm vụ ở Thuỵ Điển ... Quyền lực chính trị chủ yếu thuộc Quốc hội và chính phủ đứng đầu là Thủ tướng.

Nhà Vua hiện nay là Can Gút-xtáp 16 (Carl XVI Gustaf) sinh ngày 30/4/1946, lên ngôi 9/1973.

b/ Cơ quan lập pháp

Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất thông qua các đạo luật và các quyết định có tính chất chính sách.

Hiến pháp đầu tiên được thông qua 1809 quy định việc lập ra Quốc hội 4 đẳng cấp (quý tộc, nhà thờ, thành thị và nông dân). 1886 sửa đổi Hiến pháp; lập quốc hội 2 viện : Thượng viện va Hạ viện.  Thượng viện do các chính quyền địa phương bầu ra và Hạ viện do dân bầu trực tiếp. 1971 bỏ chế độ Thượng viện chỉ còn Hạ viện hay Quốc hội (Riksdag) với 349 nghị sĩ được dân bầu thông qua phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, bỏ phiếu kín và đại diện đảng theo tỷ lệ phiếu bầu.

Một đảng phải giành được ít nhất 4% số phiếu bầu trong cả nước mới có đại diện trong Quốc hội.

Nhiệm kỳ của Quốc hội từ 9/1994 trở về trước là 3 năm. Từ 9/94 quy định lại là 4 năm. Bầu cư Quốc hội lần tới vào ngày 17/9/2010.

c/ Cơ quan hành pháp:  Bao gồm Chính phủ trung ương và các chính quyền địa phương. 

Đứng đầu  Chính phủ là Thủ tướng. Thủ tướng là người được Chủ tịch Quốc hội đề nghị đứng ra thành lập Chính phủ mới, sau khi đã tham khảo ý kiến của chủ tịch các đảng trong Quốc hội và các Phó chủ tịch Quốc hội. Thủ tướng được chỉ định tiến hành bổ nhiệm các thành viên trong Chính phủ. Sau đó Quốc hội thông qua thành phần Chính phủ mới theo nguyên tắc đa số phiếu tán thành.

Chính phủ mới được thành lập sau bầu cử Quốc hội định nhiệm kỳ 4 năm hoặc khi Thủ tướng đương nhiệm từ chức do mất tín nhiệm hoặc vì lý do cá nhân.

Chính phủ có thể là đa số hay thiểu số một đảng hoặc liên hiệp nhiều đảng. Thường Chính phủ được thành lập trên cơ sở kết quả bầu cử Quốc hội và theo hai khối được hình thành theo mầu sắc chính trị của các đảng trong Quốc hội. Khối các đảng trung tả gồm đảng XHDC, Cánh tả (Cộng sản cũ) và Môi trường. Khối các đảng trung hữu gồm đảng Bảo thủ (hay còn gọi Ôn hoà), Tự do, Trung tâm, và Dân chủ Thiên chúa giáo.  Từ trước đến nay, khi khối các đảng trung tả giành thắng lợi trong bầu cử Quốc hội (trên 50% phiếu bầu), đảng XHDC đứng ra thành lập Chính phủ ,vì đảng này thường giành được số phiếu cao nhất. Ngược lai, khi các đảng trung hữu giành thắng lợi trong bầu cử Quốc hội họ sẽ đứng ra thành lập Chính phủ liên hiệp vì như vậy mới có được đa số phiếu và Thủ tướng sẽ là chủ tịch của đảng giành được số phiếu cao nhất trong bầu cử Quốc hội trong các đảng cánh hữu. Chính phủ hiện nay là Chính phủ Liên minh đa số của Thủ tướng Fredrik Reinfeldt, Lãnh tụ Liên minh trung hữu. 

Số lượng các Bộ trưởng tuỳ theo yêu cầu của mỗi Chính phủ. Nội các hiện nay gồm 12 Bộ và 21 Bộ trưởng. Hầu hết các Bộ trưởng là nghị sĩ Quốc hội và có thể bị Quốc hội hay Thủ tướng bãi miễn. Mỗi Bộ có không quá 150 quan chức làm việc. Văn phòng Chính phủ gồm 2 bộ phận : bộ phận cố vấn về chính sách và bộ phận về pháp luật. Bộ phận cố vấn về chính sách chủ yếu gồm các quan chức chính trị. Bộ phận về pháp luật gồm các quan chức chuyên môn và bộ phận này phụ trách các thể lệ liên quan đến Hiến pháp, luật pháp và họp nội các.

Mỗi tuần nội các họp toàn thể từ 1-3 lần dưới sự chủ toạ của Thủ tướng để thông qua các quyết định của Chính phủ và thảo luận các vấn đề sẽ đưa ra thực hiện.

Chính phủ có quyền đề nghị giải tán Quốc hội và tiến hành bầu cử trước thời hạn. Song Quốc hội được bầu lại chỉ tồn tại đến hết thời gian còn lại của nhiệm kỳ.

d/ Hệ thống tư pháp 

Hệ thông toà án hoạt động độc lập với cơ quan lập pháp và hành pháp được chia làm 3 cấp : Trung ương, tỉnh và huyện. Chánh án tối cao do Chính phủ  bổ nhiệm có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện các đạo luật đã được ban hành. Các quy định về xét xử chung như các hành vi phạm tội do toà án cấp quận, huyện xét xử. Toà án phúc thẩm xét phúc tra và cuối cùng trình lên toà án tối cao quyết định. Các hành vi vi phạm khác như về thuế, phúc lợi xã hội và các vấn đề thuộc Hội đồng cấp quận, thành phố do toà án địa phương, toà hành chính phúc thẩm và toà hành chính tối cao xét xử. Các lĩnh vực đặc biệt như thị trường lao động do các toà án chuyên ngành xét xử.

IV. KINH TẾ

1. Điều kiện tự nhiên, xã hội

Thuỵ Điển có ba nguồn tài nguyên chính là rừng, quặng sắt và thuỷ điện.

 - Rừng chiếm  khoảng 60% diện tích cả nước và trữ lượng khoảng 2,5 tỷ m3 gỗ. Đây là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp gỗ, giấy.

 - Quặng sắt tập trung chủ yếu ở miền Bắc có trữ lượng khoảng 3 tỷ tấn, có hàm lượng cao (60 - 70%). Đây là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp luyện kim và cơ khí.

 - Ngoài quặng sắt, Thuỵ Điển không có các khoáng sản khác như dầu mỏ và than đá nên 2/3 nhu cầu về năng lượng phải nhập.

 - Thuỷ điện tương đối dồi dào. Hiện nay các nhà máy thuỷ điện ở Thuỵ Điển cung cấp 50% điện năng, 50% còn lại là năng lượng hạt nhân và nhiệt điện (Thuỵ Điển có 10 nhà máy điện hạt nhân cung cấp 45% nhu cầu về điện).

 - Đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 10% diện tích cả nước (3 triệu ha) và tập trung ở phía Nam và vùng ven biển.

 - Lực lượng lao động khoảng 4,4 triệu người trong số 9 triệu dân.

2. Cơ cấu kinh tế:

 - Công nghiệp        : 29% GDP.
 - Nông nghiệp        : 2% GDP.
 - Dịch  vụ               : 69% GDP.

Tổng thu nhập quốc nội (GDP) năm 2006 đạt khoảng 372 tỉ USD
GDP tính theo đầu người : 32.200 USD (2006)
Tăng trưởng GDP: 4,7 5 (2006) 
Tỷ lệ lạm phát: 1,4% (2006)
Tỷ lệ thất nghiệp: 5,6% (2006)
Xuất khẩu: 173,9 tỷ USD (2006)
Nhập khẩu: 151,8 tỷ USD (2006)
Thị trường buôn bán chủ yếu của Thuỵ Điển là Tây Bắc Âu và Mỹ chiếm 75%; với Châu Á 13%.
 
3. Các ngành công nghiệp chính :

 - Công nghiệp chế tạo (kể cả công nghiệp chế tạo ô tô và động cơ máy bay). Đây là ngành công nghiệp lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp Thuỵ Điển, chiếm khoảng 42% giá trị sản xuất công nghiệp, 50% giá trị xuất khẩu và có khoảng 450.000 nhân công.

 - Công nghiệp hoá chất chiếm 11% giá trị sản xuất công nghiệp, 13% giá trị xuất khẩu, và có khoảng 75.000 công nhân. Các sản phẩm của ngành này gồm chất dẻo, các sản phẩm cao su, các hoá chất dùng trong công nghiệp dược phẩm, thiết bị xử lý nước và bảo vệ môi trường.

 - Công nghiệp khai khoáng và luyện kim chiếm 6% giá trị sản xuất công nghiệp, 7% giá trị xuất khẩu và 42.000 nhân công, trong đó công nghiệp luyện kim chiếm 4% giá trị sản xuất công nghiệp, 6% giá trị xuất khẩu, 80% sản phẩm làm ra được xuất khẩu và có 30.000 công nhân (trên 4% lực lượng lao động trong công nghiệp).

 - Công nghiệp giấy và gỗ chiếm 16% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% giá trị xuất khẩu và 124.000 nhân công. 71% bột giấy và giấy và 31% sản phẩm gỗ sản xuất ra được xuất khẩu.
 
4. Nông nghiệp :

Thuỵ Điển có khoảng 3 triệu ha đất canh tác và 3% lực lượng lao động. Sản phẩm trồng trọt chủ yếu là lúa mì, tiểu mạch và đại mạch, hàng năm trồng 2 vụ vào mùa xuân và mùa thu. Năng suất lúa mì khoảng trên dưới 5 tạ/ha. Đàn đại gia súc có khoảng 1,7 triệu con và khoảng 2,2 triệu con lợn. Đại bộ phận là các trang trại cỡ nhỏ. Các trang trại cỡ từ 2,1 ha - 10 ha chiếm 35%, từ 20,1 ha - 50 ha chiếm 27% và cỡ 100 ha chỉ chiếm 4% (1990).

 Đến 1990 những mục tiêu cơ bản của chính sách nông nghiệp của Thuỵ Điển là đảm bảo đủ lương thực để cung cấp cho cả nước trong trường hợp khẩn cấp và đảm bảo cho người làm nông nghiệp có thu nhập thích đáng và nông nghiệp có thể cung cấp đủ nhu cầu về lương thực. Chính sách này cũng còn nhằm cân đối khu vực tốt hơn. Do đó sản xuất nông nghiệp của Thuỵ Điển đã đáp ứng nhu cầu về lương thực cho cả nước, trừ một số mặt hàng thực phẩm phải nhập như hoa quả, rau, cà phê, chè, côca.

V. ĐỐI NGOẠI :

- Trong hai cuộc chiến tranh thế giới 1 và 2 nhờ theo đuổi chính sách trung lập Thuỵ Điển đã không bị lôi kéo vào chiến tranh, đất nước không bị tàn phá. Thuỵ Điển đã tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, chống chạy đua vũ trang, nhất là vũ khí hạt nhân, chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, ủng hộ giải trừ quân bị và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước A'-Phi-Mỹ Latinh, thực hiện chính sách viện trợ phát triển tích cực đối với các nước nghèo. Thuỵ Điển cũng đóng một vai trò tích cực trong quá trình an ninh và hợp tác ở châu Âu và trong các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc.

- Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới và châu Âu đã thay đổi nhanh chóng. Để thích ứng với tình hình mới, tuy vẫn duy trì chính sách không liên kết quân sự, không chủ trương gia nhập NATO, song Thuỵ Điển đã có sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại và an ninh, trước hết đối với châu Âu. Sự điều chỉnh lớn nhất là việc Thuỵ Điển xin gia nhập Liên hiệp châu Âu (EU), tham gia cơ chế quan hệ đối tác vì hoà bình (Partnership for Peace) với NATO và tham gia lực lượng IFOR dưới sự chỉ huy của NATO ở Bosnia, nhằm hoà nhập với châu Âu về kinh tế, chính trị và an ninh.

- Ngày 1/1/1995 Thuỵ Điển đã trở thành thành viên chính thức của EU.

- Sau châu Âu, Thuỵ Điển coi châu A', trước hết là Đông Nam A' và Đông Bắc A' là khu vực ưu tiến số 2 trong chính sách hợp tác phát triển của Thuỵ Điển, đồng thời tiếp tục chính sách viện trợ phát triển giúp các nước nghèo. Thuỵ Điển là một trong số 4 nước (Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Thuỵ Điển) đạt và vượt mục tiêu của Liên hợp quốc 0,7% GDP viện trợ cho các nước nghèo (hiện nay Thuỵ Điển dành khoảng 0,9% GDP cho hợp tác phát triển).                  

VI. QUAN HỆ VIỆT NAM - THUỴ ĐIỂN

1/ QUAN HỆ CHÍNH TRỊ

- Thuỵ Điển là nước phương tây đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (11/1/1969).
- 6/1970 : Thuỵ Điển lập Sứ quán tại Hà Nội.
- 7/1970 : Việt Nam lập Sứ quán tại Stockholm.

Trao đổi các Đoàn cấp cao giữa 2 bên. 

+ Về phía Thuỵ Điển: 

- 11/6/73 : Bộ trưởng Ngoại giao Thuỵ Điển Kristen Wickman thăm Việt Nam.

- 4/4/1978 : Bộ trưởng Ngoại giao Thuỵ Điển Karin Soden thăm Việt Nam. Tiếp đó, Chính phủ Thuỵ Điển cũng đã cử Bộ trưởng Ngoại giao của họ thăm Việt Nam năm 1980, 1985 và 1988.

- Bộ trưởng Viện trợ thăm Việt Nam 1987, 1990, 1992, và 1996.

- 14/3/81 : Bộ trưởng Xã hội Karin Soden thăm Việt Nam.

- 1988 : Bộ trưởng Ngoại thương thăm Việt Nam.

- 6-8/4/1994 : Thủ tướng Carl Bildt thăm Việt Nam.

- 16-21/10/1995 : Chủ tịch Quốc hội Birgiha Dahl thăm Việt Nam 

 - 1/1996 : Bộ trưởng Tư pháp thăm Việt Nam.

 - 5/97 : Bộ trưởng Môi trường Anna Lindh thăm Việt Nam.

 - 10-14/1/1999 : Phó Thủ tướng Lena Hjelm-Wallen thăm Việt Nam và tham dự các hoạt động kỷ niệm 30 năm 2 nước lập quan hệ Ngoại giao (11/1/69-11/1/99).

 - 12/1999: Quốc vụ khanh phụ trách thương mại Yvonne Gustafsson thăm Việt Nam.

 - 28/5-2/6/2000: Bộ trưởng Văn hoá Thuỵ Điển Marita Ulvskog thăm Việt Nam.

 - 9 - 10/8/2001: Bộ trưởng Ngoại giao Thuỵ Điển Anna Lindh thăm Việt Nam.

 - 10 - 11/9/2001: Bộ trưởng Thương mại Leif Pagrotsky thăm Việt Nam và dự Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEM lần thứ 3.

 - 2/2004: Nhà Vua Thuỵ Điển Carl XVI Gusstaf và Hoàng hậu thăm hữu nghị, chính thức Việt Nam.

- 9/2004: Thủ tướng Thuỵ Điển Goran Persson và Ngoại trưởng Laila Freivals dự Hội nghị thượng đỉnh ASEM 5 tại Hà Nội.

+ Về phía Việt Nam : 

 - Từ 8-12/4/1974 : Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm chính thức Thuỵ Điển.

 - 19-22/4/1976 : Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh thăm Thuỵ Điển.

 - 1989 : Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch thăm Thuỵ Điển.

 - 1990 : Phó Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm Thuỵ Điển.

 - 9/1993 : Phó Thủ tướng Trần Đức Lương thăm Thuỵ Điển.

 - 10/1993 : Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh thăm Thuỵ Điển.

 - 6-8/6/1995 : Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức Thuỵ Điển.

 - 7/1999: Tổng bí thư Lê Khả Phiêu thăm làm việc Thuỵ Điển trên đường đi Cu-ba.

 - 9/1999: Thủ tướng Phan Văn Khải thăm chính thức Thuỵ Điển.

 - 28-30/11/2001: Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm thăm chính Thụy Điển (Ngoài ra: Phần Lan 18-21/11, Đan Mạch 22-24/11, Na Uy 25-27/11).

 - 6/2002: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên thăm Thuỵ Điển.

 - 9/2003: Phó Thủ tướng Vũ Khoan thăm Thuỵ Điển.

 - 11/2004: Phó Thủ tướng Vũ Khoan thăm và dự ngày "Vietnam Day" tại Thuỵ Điển.

Thuỵ Điển là nước phương Tây đã đi đầu và ngay từ những năm đầu trong việc hỗ trợ Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới : Cải cách kinh tế; tài chính; ngân hàng; quản lý kinh tế; cải cách hành chính; luật pháp. Tích cực hỗ trợ giúp đỡ Việt Nam khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế (IMF, WB...).

2/ QUAN HỆ HỢP TÁC PHÁT TRIỂN KINH TẾ, TÀI CHÍNH, THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ :

Từ 1970-1990 : quan hệ hợp tác kinh tế giữa 2 nước được thực hiện chủ yếu dưới hình thức Thuỵ Điển viện trợ không hoàn lại giúp Việt Nam xây dựng một số công trình; phục hồi 1 số cơ sở công nghiệp, năng lượng. Từ năm 1970 đến 1990, Thuỵ Điển viện trợ cho Việt Nam gần 6 tỷ SEK (khoảng 950 triệu USD).

Từ 1990-1998 : 1.630 triệu SEK (khoảng 230 triệu USD). Viện trợ của Thuỵ Điển cho Việt Nam giai đoạn này chuyển hướng sang giúp Việt Nam thực hiện các dự án : cải cách kinh tế, xây dựng thể chế, cải cách hành chính, luật pháp, phát triển nguồn lực nhằm hỗ trợ Việt Nam phát triển kinh tế thị trường bền vững...

Từ 1999-2001 : 510 Triệu SEK (khoảng 60 triệu USD).

Từ 2002-2003: 645 triệu SEK ( khoảng 70 triệu USD).

Từ 2004-2006: 975 triệu SEK ( Khoảng trên 130 triệu USD).

Năm 2007: Thuỵ Điển cam kết dành cho Việt Nam 300 triệu SEK viện trợ không hoàn lại.

Quan hệ thương mại Việt Nam - Thuỵ Điển : 

Cùng với sự phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, quan hệ thương mại 2 nước cũng ngày càng tăng lên. Kim ngạch xuất, nhập khẩu 2 nước từ 2000-2006 như sau:
 - 2000 : đạt 102 triệu USD
 - 2001 : đạt 128 triệu USD
 - 2002 : đạt 124 triệu USD
 - 2003: đạt 200 triệu USD.
 - 2004 :  đạt  220 triệu USD.
 - 2005: đạt  273 triệu USD.
 - 2006: đạt 300 triệu USD.

Quan hệ đầu tư, liên doanh : 

Tính đến 5/2006, Thuỵ Điển có 10 dự án đầu tư vào Việt Nam , tổng vốn đầu tư  gần 400 triệu USD (xếp thứ 17/37 các nước và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam ), chủ yếu vào ngành bưu chính viễn thông, điện thoại di động trang thiết bị điện. Riêng tập đoàn Kinnevik/Comvik Thuỵ Điển có dự án hợp tác kinh doanh dịch vụ viễn thông di động với Tổng công ty Bưu chính viễn thông với số vốn khoảng 340 triệu USD thông qua công ty cung cấp thiết bị Ericsson ( chiếm trên 80% tổng đầu tư của Thuỵ Điển vào Việt Nam ).

3/ NHỮNG HIỆP ĐỊNH CHỦ YẾU 2 BÊN ĐÃ KÝ KẾT :

a/ Hiệp định về nguyên tắc và thủ tục chung cho sự hợp tác Việt Nam - Thuỵ Điển
 - Giai đoạn I : 31/5/85-1/7/1990 .
 - Giai đoạn II : 1/7/90-30/6/1995
 - Giai đoạn III : 6/95-31/12/2000. (Có gia hạn đến hết 2003)
 - Giai đoạn IV: 1/2004-12/2006.

b/ Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư : 8/9/1993.

c/ Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần và ngăn ngừa trốn lậu thuế : 24/3/1994.

d/ Hiệp định hợp tác vận chuyển hàng không : 25/9/1997.

e/ Hiệp định hợp tác, hỗ trợ văn hoá :
 - Giai đoạn I : 1993-1995
 - Giai đoạn II : 1996-1998.

f/ Hiệp định về hợp tác phát triển Việt Nam - Thuỵ Điển giai đoạn từ 1999-2001, theo đó Thuỵ Điển sẽ viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam 510 triệu SEK (khoảng 60 triệu USD): ký 11/1/1999.

g/ Hiệp định khung về hợp tác phát triển 2004-2006

h/ Hiệp định Hợp tác con nuôi

i/ Hiệp định Hợp tác Khoa học Kỹ thuật 2004-2007.

(Tháng 6 năm 2007)

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: [email protected]